|
|
Cha cho rằng từ ngày tông huấn được ban hành (tháng Tư, 2016) cho tới nay,
rất nhiều cuộc tranh luận đă nổ ra trong Giáo Hội. Bên bênh cũng như bên
chống, ít nhất trong thế giới nói tiếng Anh, đều đồng ư cho rằng tông huấn
này cho phép người ly dị và tái hôn dân sự được rước lễ trong một số hoàn
cảnh. Họ chỉ tranh luận xem điều này tốt hay xấu mà thôi.
Tuy nhiên, nếu ta đọc nó theo cách phải đọc một văn kiện giáo hoàng, nghĩa
là nghiền ngẫm trọn bản văn trong ngữ cảnh truyền thống Giáo Hội, th́ trọn
tiền đề của cuộc tranh luận trên hoàn toàn sai lạc, nghĩa là, Đức Giáo Hoàng
Phanxicô không hề mở cửa cho những người nói trên rước lễ.
Ai cũng biết, thuật ngữ “giải thích liên tục”, được Đức Bênêđíctô XVI sử
dụng, có ư nói tới cách đọc trọn vẹn và trong truyền thống Giáo Hội một văn
kiện huấn quyền. C̣n Đức Hồng Y Gerhard Müller, Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Lư
Đức Tin, th́ cho rằng chỉ có một cách đọc duy nhất đúng đối với "Amoris
Laetitia" là cách đọc theo lối giải thích này mà thôi.
Nhưng trước khi đi vào chi tiết, Cha Schneider cho rằng cần phải có một phân
biệt chủ yếu sau đây: có một sự khác biệt quan trọng giữa những người hiểu
giáo huấn của Giáo Hội mà vẫn quyết định dấn thân vào các liên hệ tính dục
trong cuộc hôn nhân thứ hai, và những người không sống theo giáo huấn của
Giáo Hội hoặc v́ không biết (ignorance) hay v́ yếu đuối.
Theo Cha Schneider, Đức Giáo Hoàng Phanxicô xem ra đă đề cập tới sự phân
biệt trên một cách rơ ràng hơn các vị giáo hoàng trước đây. Và trọng điểm ở
đây là: trái với ư kiến phổ biến, bản văn của "Amoris Laetitia" không cho
phép những người trắng trợn hay cố ư có các liên hệ giống như vợ chồng trong
“cuộc hôn nhân thứ hai” được xá tội hay rước lễ.
Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh tới ḷng thương xót đối với những người hoặc v́
không biết hoặc có ư định tiết dục để sống như anh trai em gái nhưng thỉnh
thoảng không giữ được ư định này (yếu đuối).
Rào trước đón sau như thế rồi, Cha Schneider cho hay ngài sẽ dựa vào các
điều trong bản văn của "Amoris Laetitia" để tŕnh bầy cái nh́n của ngài.
1. Đoạn 300:
Trước nhất, Đức Phanxicô nói rơ ràng rằng ngài không có ư đưa ra các qui
định mới. “Không ai chờ mong cả Thượng Hội Đồng Giám Mục lẫn văn kiện này
đưa ra một số luật lệ tổng quát, có bản chất giáo luật và áp dụng cho mọi
trường hợp”. Ngay khi nói đến việc phải từ từ tỏ cho các cặp “vợ chồng” thấy
thực tại tội lỗi của họ, Đức Phanxicô cũng vẫn cho rằng “sự biện phân không
bao giờ có thể không xét đến các đ̣i hỏi của Tin Mừng như đă được Giáo Hội
đề ra”.
Như thế, bất chấp những ǵ ngài nói sau đó về biện phân, ngài đă dựng giáo
huấn hiện thời của Giáo Hội thành hàng rào quanh điều có thể được biện phân.
Biện phân là một diễn tŕnh quyết định phải làm ǵ về thiêng liêng, như có
nên đọc kinh Mân Côi hay Kinh Thần Vụ hàng ngày hay không, nhưng một điều
kiện căn bản phải có trước khi biện phân là không thể chọn một điều ǵ đó ở
bên ngoài giáo huấn của Giáo Hội.
Mà giáo huấn của Giáo Hội th́ rất rơ ràng nói rằng: việc xá tội trong bí
tích và do đó việc Hiệp Lễ không thể nào trao ban cho những người có ư định
phạm thêm các tội trọng.Thường thường ta cho rằng ai tới xưng tội đều không
ương ngạnh muốn phạm thêm nhiều tội trọng, nhưng nếu vị linh mục biết họ có
ư định như thế, ngài sẽ không xá tội cho họ.
Điều trên khác với sự yếu đuối. Trong ṭa giải tội, linh mục có thể tha cho
một hối nhân tội say sưa rượu chè, dù cả ngài lẫn hối nhân đều biết người
này rất có thể sa ngă trở lại; nhưng ngài không thể xá tội cho anh ta nếu
anh ta bảo ngài rằng anh ta sẽ say sưa trở lại vào cuối tuần này. "Amoris
Laetitia" nói tới tội chuyên biệt làm t́nh với một người tuy là người phối
ngẫu của ḿnh theo dân luật nhưng không phải là người phối ngẫu của ḿnh
theo bí tích.
Đoạn 307:
tại đoạn này, Đức Giáo Hoàng nhắc lại một lần nữa rằng “Không thể nào Giáo
Hội lại bác bỏ việc đề xuất lư tưởng trọn vẹn của hôn nhân, tức kế hoạch của
Thiên Chúa trong mọi nét cao cả của nó”.
Từ các đoạn văn trên, điều rơ ràng là những ai sống trong sự bất tuân công
khai giới luật trong sạch đối với người ly dị và tái hôn dân sự, như đă được
tŕnh bầy trong văn kiện Familiaris
Consortio năm 1981 của Thánh
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không thể được xá tội hoặc rước lễ.
2. Thứ đến,
Đức Giáo Hoàng nói tới sự khác biệt giữa việc sai phạm v́ không biết, và tội
cố t́nh (flaunting sin).
Đoạn 297:
trong đoạn này, Đức Phanxicô nói rằng “nếu một ai đó phách lối coi một tội
khách quan như thể là thành phần của lư tưởng Kitô Giáo, hay muốn áp đặt một
điều ǵ đó khác hơn là điều được Giáo Hội dạy bảo… th́ đây là trường hợp nói
đến một điều vốn tách biệt người ta khỏi cộng đồng”.
“Tội khách quan” là tội có thể được nh́n thấy qua các hành vi bề ngoài, chưa
kể các điều như biết đó là tội và mức độ tham dự của ư chí tự do, và trong
bối cảnh này, rơ ràng không ai dám cho rằng ngủ với một người không phải là
người phối ngẫu hợp pháp của ḿnh là hợp luân lư cả. “Tách biệt khỏi cộng
đồng” có ư nói tách biệt khỏi Giáo Hội, và do đó, khỏi việc rước lễ.
Đoạn 299:
Khi đề cập tới việc hội nhập người ly dị và tái hôn dân sự vào Giáo Hội ở
đoạn này, Đức Giáo Hoàng nói rằng phải “tránh bất cứ dịp làm gương mù gương
xấu nào”. V́ “gương mù gương xấu” có ư nói tới các hành vi rất có thể dẫn dụ
một người khác nào đó phạm tội, nên đoạn văn này hẳn phải có nghĩa: một vài
h́nh thức hội nhập một số người ly dị và tái hôn dân sự là có tội nếu có
nguy cơ gây gương mù gương xấu.
Điều trên chứng tỏ rằng một số cặp, tức những người cố gắng sống theo giáo
huấn của Giáo Hội, có thể được tái hội nhập, trong khi những cặp khác, tức
những người cố ư không tuân theo giáo huấn của Giáo Hội, th́ chỉ có thể được
hội nhập một phần (trong đó, không có rước lễ).
3. Thứ ba,
Đức Giáo Hoàng cho rằng trách nhiệm đối với tội thay đổi giữa người yếu đuối
và người huênh hoang việc ḿnh bất tuân tông huấn Familiaris
Consortio.
Đoạn 302:
Trong đoạn này, ngài viết rằng “dù vẫn duy tŕ qui luật tổng quát, nhưng cần
phải thừa nhận rằng trách nhiệm đối với một hành động hay một quyết định nào
đó không như nhau trong mọi trường hợp”. Những người có ư định tiếp diễn các
liên hệ tính dục đi ngược lại giáo huấn hiện hành của Giáo Hội, và những
người sa vào đó trong lúc yếu đuối hay không biết giáo huấn của Giáo Hội,
nhất định có mức độ trách nhiệm khác nhau đối với các hành vi của ḿnh.
Đoạn 304:
Trong đoạn này, Đức Giáo Hoàng gợi ư rằng ta nên biện phân các hoàn cảnh cụ
thể của đời sống cá nhân, chứ không phải chỉ biện phân việc hành động khách
quan phải xứng hợp với qui luật chung. Một trong các tập chú lớn đối với
hoàn cảnh sống cụ thể là liệu một ai đó có biết giáo huấn của Giáo Hội và cố
gắng sống nó hay không.
4. Thứ bốn và
cuối cùng, ngài nói tới ḷng thương xót trong ṭa giải tội đối với những
người cố gắng sống giáo huấn của Giáo Hội bao nhiêu có thể.
Đoạn 311:
Trong đoạn này, ngài viết: “ḷng thương xót không loại trừ công lư và chân
lư, nhưng trước hết và trên hết, ta phải nói rằng ḷng thương xót chính là
sự viên măn của công lư và là biểu hiện ngời sáng nhất của chân lư Thiên
Chúa”. Như thế, ḷng thương xót trong toà giải tội không thể bị tách biệt
khỏi chân lư và công lư, một điều vốn bao gồm mọi giáo huấn trước đây của
Giáo Hội.
Ghi chú 351 nổi
tiếng trong "Amoris Laetitia" phải được giải thích trong ngữ cảnh bao quát
này.
Khi ghi chú 351 nói rằng “Trong một số trường hợp, [sự trợ giúp đối với
những người không sống trọn vẹn theo giáo huấn khách quan của Giáo Hội liên
quan tới hôn nhân] điều này có thể bao gồm sự trợ giúp của các bí tích”, một
cách hợp luận lư, nó có ư nói tới những người cố gắng sống theo giáo huấn
hiện hành của Giáo Hội theo sự hiểu biết tối đa của họ, v́ đây chính là bản
văn đi trước ghi chú. Điều này áp dụng cả vào những người không hiểu giáo
huấn của Giáo Hội về “cuộc hôn nhân thứ hai” lẫn vào những người sai phạm v́
yếu đuối của con người.
Từ những điều nói trên và theo truyền thống của Giáo Hội, điều xem ra rơ
ràng là “một số trường hợp” này có ư nói tới người không biết và người yếu
đuối chứ không có ư nói tới những người cố t́nh ngủ với một ai đó không phải
là người phối ngẫu hợp pháp của ḿnh theo giáo luật.
Ngoài các bản văn đă trích dẫn, nếu ta đọc "Amoris Laetitia" bên trong
truyền thống, th́ sự mơ hồ phải được đọc theo điều truyền thống dậy chứ
không chống lại nó. Nếu một vị giáo hoàng muốn thay đổi một thực hành mục vụ
hiện hành, sức nặng của truyền thống buộc ngài phải tuyên bố điều này một
cách rơ ràng, chứ không hàm ư bằng một ghi chú hàm hồ.
Đây không phải là lối giải thích mới lạ, mà đă có từ ngày đầu tiên và là lối
giải thích có nghĩa nhất trong ngữ cảnh các giáo huấn trước đây. Cha
Schneider từng nói đến nó ngay ngày "Amoris Laetitia" được công bố và mấy
tuần sau trong cuốn “Study Guide” của ngài, nhưng chưa được giải thích và
phân tích đầy đủ.
Nhưng phản biện sau đây có thể có: Đoạn
301 của tông huấn nói rằng
không phải mọi người sống trong các hoàn cảnh bất hợp lệ “đều sống trong
trạng thái tội trọng và mất ơn thánh hoá”. Điều này dẫn ta tới việc nh́n
nhận sự phân biệt giữa các hành vi khách quan và việc qui lỗi chủ quan.
Giáo Hội luôn dậy rằng một tội trọng, tức tội làm ta mất ơn thánh hóa, đ̣i
phải có vấn đề hệ trọng, phải biết đó là tội, và đủ tự do làm điều hệ trọng
này. Nhiều người trong các hoàn cảnh bất hợp lệ không hiểu rơ tính bất hợp
lệ, hay sai phạm v́ thói quen nhưng không hoàn toàn chọn lựa mối liên hệ
tính dục (v́ yếu đuối chẳng hạn), những người này không phạm tội trọng, và
do đó hoàn toàn phù hợp với điều Đức Phanxicô muốn nói.
Đă đành là người ta thấy có sự nhấn mạnh hơi khác khi đọc "Amoris Laetitia".
Tuy nhiên, khi đọc nó trong toàn bộ và bên trong truyền thống, Cha Schneider
cho rằng không nên đọc "Amoris Laetitia" theo nghĩa nó cho phép những ai
đang sống trong “cuộc hôn nhân thứ hai” được rước lễ, v́ điều này không hề
có trong bản văn và đi ngược lại các tuyên bố khác trong chính bản văn.
Cha thừa nhận rằng ngôn ngữ của tông huấn nên rơ ràng hơn, nhưng ngụ ư có
thay đổi tín lư do việc thiếu rơ ràng là điều quá đáng. Tinh thần của một
văn kiện không thể mâu thuẫn với các lời lẽ trực tiếp của nó.
Các lời lẽ trực tiếp của "Amoris Laetitia" cho thấy không hề có thay đổi nào
đối với giáo huấn của Giáo Hội, nhưng có sự thay đổi đôi chút về nhấn mạnh
đối với ḷng thương xót những ai hoặc không biết hay cố gắng sống theo giáo
huấn của Giáo Hội nhưng đôi lúc sa ngă.
Đức Giáo
Hoàng cũng không thể thay đổi
Nói như Cha Schneider th́ đâu c̣n ǵ để tranh luận nữa. V́ trong cả hai
trường hợp vừa nói, người ta có tội ǵ đâu mà không cho rước lễ. Vấn đề là
có những lối giải thích cho rằng kể cả những người hội đủ 3 điều kiện tội
trọng mà vẫn có thể được rước lễ. Và hiện Đức Phanxicô không lên tiếng chính
thức phủ nhận những lối giải thích này.
Tiện đây, cũng xin lược dịch một số câu trả lời của Đức Hồng Y Gerhard
Müller trong cuộc phỏng vấn mới đây của tờ Il Timone:
Hỏi: Có thể
có mâu thuẫn giữa tín lư và lương tâm bản thân không?
Trả lời: Không, không thể nào. Thí dụ, người ta không thể nói có những hoàn
cảnh theo đó một hành vi ngoại t́nh không tạo nên một tội trọng. Đối với tín
lư Công Giáo, một tội trọng không thể cùng hiện hữu với ơn thánh hóa. Để
vuợt qua sự mâu thuẫn phi lư này, Chúa Kitô đă lập ra bí tích thống hối và
hoà giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội.
Hỏi: Đây là
một vấn đề hiện đang được thảo luận rộng răi liên quan tới cuộc tranh luận
chung quanh tông hấn hậu thượng hội Đồng “Amoris Laetitia”.
Trả lời: “Amoris Laetitia” phải được rơ ràng giải thích dưới ánh sáng toàn
bộ tín lư của Giáo Hội. […] Tôi không thích, thật không đúng khi khá nhiều
giám mục đang giải thích “Amoris Laetitia” theo cách hiểu của họ về giáo
huấn của Đức Giáo Hoàng. Việc này không hợp với đường hướng tín lư Công
Giáo. Huấn quyền của Đức Giáo Hoàng chỉ được ngài hay qua thánh bộ Giáo Lư
Đức Tin giải thích. Đức Giáo Hoàng giải thích các giám mục, chứ các giám mục
không giải thích Đức Giáo Hoàng, v́ việc này sẽ đảo ngược cơ cấu của Giáo
Hội Công Giáo. Với tất cả những người nói quá nhiều, tôi thúc giục họ nghiên
cứu trước nhất tín lư [của các công đồng] về ngôi vị giáo hoàng và hàng giám
mục. Là thầy dậy Lời Chúa, giám mục phải là người đầu tiên được huấn luyện
đầy đủ để không rơi vào nguy cơ người mù dắt người mù. […].
Hỏi: Tông
huấn của Thánh Gioan Phaolô II, “Familiaris Consortio”, dự liệu rằng các cặp
ly dị và tái hôn nào không thể sống xa nhau, để có thể lănh nhận các bí
tích, phải cam kết sống tiết dục. Đ̣i hỏi này có c̣n giá trị hay không?
Trả lời: Dĩ nhiên, nó không thể miễn chuẩn được, v́ nó không phải chỉ là
luật thực định (positive law) của Đức Gioan Phaolô II, mà ngài c̣n nói lên
một yếu tố có tính yếu tính của nền thần học luân lư Kitô Giáo và nền thần
học bí tích. Sự hồ đồ về điểm này cũng liên quan tới việc thất bại, không
chấp nhận thông điệp “Veritatis Splendor”, với tín lư rơ ràng về “intrinsece
malum” (sự xấu nội tại) [...].Đối với chúng ta, hôn nhân nói lên việc tham
dự vào sự hợp nhất giữa Chúa Kitô chàng rể và Giáo Hội, cô dâu của Người.
Đây không phải là một loại suy đơn giản mơ hồ, như một số người nói tại
Thượng Hội Đồng. Không! Đây là bản chất của bí tích, và không quyền bính nào
ở trên trời cũng như ở dưới đất, không thiên thần, không vị giáo hoàng nào,
không một công đồng nào, không một luật lệ của các giám mục nào, có khả năng
thay đổi nó.
Hỏi: Làm thế
nào để giải quyết sự hỗn độn đang phát sinh về các lối giải thích khác nhau
đối với đoạn này của "Amoris Laetitia"?
Trả lời: Tôi thúc giục mọi người suy nghĩ, nghiên cứu tín lư của Giáo Hội
trước đă, bắt đầu từ Lời Chúa trong Sách Thánh, là sách nói rất rơ về hôn
nhân. Tôi cũng có ư kiến đừng đi vào bất cứ thứ giải nghi học (casuistry)
nào dễ sinh ra hiểu lầm, nhất là thứ giải nghi học cho rằng nếu t́nh yêu
chết, th́ dây hôn phối cũng chết. Đó là thứ ngụy biện: v́ Lời Chúa rất rơ và
Giáo Hội không chấp nhận việc tục hóa hôn nhân. Nhiệm vụ của các linh mục và
giám mục là không tạo hồ đồ, nhưng đem lại sự rơ ràng. Người ta không thể
chỉ nhắc tới những đoạn nhỏ trong “Amoris Laetitia”, nhưng phải đọc như một
toàn bộ, với mục đích làm cho Tin Mừng hôn nhân và gia đ́nh lôi cuốn hơn với
người ta. Không phải “Amoris Laetitia” đă tạo ra lối giải thích hồ đồ, nhưng
là một số người giải thích hồ đồ đă tạo ra nó. Tất cả chúng ta phải hiểu và
chấp nhận tín lư của Chúa Kitô và của Giáo Hội Người, và đồng thời sẵn sàng
giúp người khác hiểu nó và mang nó ra thực hành dù trong những hoàn cảnh khó
khăn.
Vũ Văn An